Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2025

Tại sao NS Văn Vĩ lại đặc biệt?

 Tại sao NS Văn Vĩ lại đặc biệt?

 * Tài năng thiên bẩm: Dù khiếm thị, NS Văn Vĩ có một đôi tai tuyệt vời và một trí nhớ siêu phàm.





 * Phong cách độc đáo: Ông có một phong cách chơi đàn rất riêng, mang đậm chất trữ tình và sâu lắng.

 * Tâm hồn nghệ sĩ: NS Văn Vĩ không chỉ là một nghệ sĩ tài năng mà còn là một người có trái tim nhân hậu.

NS Văn Vĩ là một biểu tượng của nghị lực và tài năng. Dù cuộc đời gặp nhiều khó khăn, ông vẫn tỏa sáng và để lại một di sản âm nhạc vô giá.

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2025

Chuyện về rạp hát cải lương đầu tiên của xứ Nam Kỳ

 

Chuyện về rạp hát cải lương đầu tiên của xứ Nam Kỳ

Nhóm PV: Thứ bảy 01/10/2022, 14:31 (GMT+7)

Từ mảnh đất Mỹ Tho đã sản sinh ra những con người tài năng, hết lòng vì nghệ thuật, trong đó có nhiều thầy tuồng, đào hát, kép đẹp, bầu gánh lừng lẫy một thời. Và cũng từ đây, rạp hát cải lương đầu tiên của Nam Bộ ra đời: Rạp thầy Năm Tú.

 

Cải lương tự bao đời đã trở thành món ăn không thể thiếu của người dân Việt Nam, đặc biệt là đối với những người con của miền đất Tây Nam Bộ.

Mỹ Tho xưa là mảnh đất sinh sôi của phong trào đờn ca tài tử và là cái nôi của sân khấu cải lương ở Nam Bộ.

Từ mảnh đất này đã sản sinh ra những con người tài năng, hết lòng vì nghệ thuật, trong đó có nhiều thầy tuồng, đào hát, kép đẹp, bầu gánh lừng lẫy một thời.

Và cũng từ đây, rạp hát cải lương đầu tiên của Nam Bộ ra đời: Rạp thầy Năm Tú.

Rạp hát thầy Năm Tú. Ảnh: Đại đoàn kết

Rạp hát thầy Năm Tú. Ảnh: Đại đoàn kết

Rạp hát thầy Năm Tú tọa lạc trên đường Lý Công Uẩn, phường 1, thành phố Mỹ Tho, do ông Châu Văn Tú (tên thường gọi là thầy Năm Tú) – vốn là một nhà tư sản - quê quán ở xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành gầy dựng vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX.

Theo các tài liệu ghi lại, trước khi có rạp thầy Năm Tú, ở Mỹ Tho đã có rạp Tư Lài nhưng cũng chỉ dành cho hát bội, chiếu bóng, bên trong bày trí sơ sài. Vì quá mê cổ nhạc nên năm 1917, ông Châu Văn Tú mới xuất tiền mua lại gánh “Xiếc và Ca ra bộ An Nam Trẻ” của André Thận, do ông này kinh doanh nghệ thuật bị thua lỗ; và thành lập gánh hát, lấy tên là thầy Năm Tú; đánh dấu sự ra đời của rạp hát cải lương đầu tiên của xứ Nam Kỳ.

Nhà nghiên cứu văn hóa Hồ Nhựt Quang cho rằng: "Rạp thầy Năm Tú đã có một công chuẩn bị rất là kỹ lưỡng, rất nhiều năm chứ không phải là là đến năm 1918 là họ bộc phát để họ đưa lên biểu diễn đâu. Bởi vì trước đó thì tại Mỹ Tho đã có một cái ban nhạc của Nguyễn Tống Triều đưa đoàn đi qua bên Pháp để biểu diễn trong những Hội chợ Đấu xảo tại Paris. Ông Châu Văn Tú từ một người chủ của rạp mà chuyên để chiếu phim, chiếu phim của Ấn Độ mà thôi. Ông là người đã mua lại gánh hát, ông cho vẽ cảnh trí rồi cũng như là trang phục rồi nghệ sĩ được biểu diễn, được luyện tập kỹ lưỡng hơn để làm thành tuồng tích".

So với những rạp hát cùng thời hoặc trước đó, rạp hát thầy Năm Tú sở dĩ được xem là rạp hát cải lương đầu tiên của Nam Bộ là vì có sân khấu rộng và cao, được bố trí ròng rọc để thay đổi phông màn, hai bên có nhiều lớp cánh gà. Rạp có hai tầng ghế ngồi. Tầng dưới có hàng trăm ghế đủ 4 hạng: thượng hạng, hạng nhất, nhì và ba. Trên lầu là sàn gỗ chắc chắn, cũng bố trí ba hạng ghế: nhất, nhì, ba. Còn hai bên chia thành từng ngăn và bốn ghế đẹp dành cho khách đặc biệt.

Trong quyển “Tiền Giang với nghệ thuật sân khấu cải lương” xuất bản năm 2013, tác giả Lê Ái Xiêm ghi: “Đêm 15/3/1918 là đêm lễ hội tưng bừng của Mỹ Tho, vở cải lương “Lục Vân Tiên” được công diễn, ghe thuyền của dân lục tỉnh đậu kín sông Bảo Định, thiên hạ đen nghịt xô đẩy giành nhau mua vé”.

Giới nghiên cứu đều cho rằng, chính từ rạp hát thầy Năm Tú mà cải lương đã được thai nghén và có sức lan tỏa mạnh mẽ cho đến ngày nay. Điều này được tác giả Mặc Nhân Tân Văn Công và Võ Thành Dũng ghi lại trong quyển “Sử khảo Mỹ Tho xưa trong Nam Kỳ lục tỉnh 1861 đến 1945”.Chính Mỹ Tho với rạp thầy Năm Tú với hãng đĩa Pathé phono đã lăng xê bản vọng cổ sau khi hoàn thành từ nhịp 8 lên 16 rồi 32. Từ đây, Bạc Liêu qua Rạch Giá đến Sài Gòn, rồi nhờ các bậc tài danh sáng tạo để trở nên một bản nhạc thấm đậm màu sắc dân tộc”.

Ông Đặng Thanh Liêm, người đã có nhiều năm gắn bó với đoàn nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang mà tiền thân là rạp thầy Năm Tú chia sẻ: "Rạp này cũng gắn bó với bà con Tiền Giang rất là mạnh mẽ. Dân Tiền Giang nói chung và dân Mỹ Tho nói riêng rất là gắn bó. Có khi thời hoàng kim của cải lương là một ngày diễn ba suất. Từ đó, sau này thì Đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang lại có thêm bộ phận cải lương. Hiện tại, bây giờ nói chung là lãnh đạo Sở cũng như ban lãnh đạo Đoàn cũng cố gắng để duy trì lại cái hoạt động cho rạp thầy Năm Tú".

Thầy Năm Tú - Ảnh tư liệu

Thầy Năm Tú - Ảnh tư liệu

Ông Liêm cho biết thêm, vào thời hoàng kim, rạp thầy Năm Tú được coi là kinh đô sân khấu cải lương Lục tỉnh Nam Kỳ, là nơi lui tới thường xuyên của giới thời thượng, tài tử giai nhân. Lúc này, ở Mỹ Tho có tuyến xe lửa lên Sài Gòn nên khi dừng chân chờ tàu mọi người hay tranh thủ đến rạp thầy Năm Tú xem cải lương, giải trí đến tận khuya. Điều đặc biệt, rạp hát thầy Năm Tú không chỉ có soạn giả giỏi, ban nhạc nổi tiếng mà còn quy tụ được những nghệ sĩ tài năng bấy giờ như: Năm Châu, Phùng Há, Tám Danh... Ông đã tạo điều kiện cho những đào kép, soạn giả giỏi có chỗ thể hiện tài nghệ và gây dựng tên tuổi.

Nói thêm rằng, vào đầu thế kỷ XX, thầy Năm Tú không chỉ nức tiếng với gánh hát của mình mà còn đóng góp quan trọng để quảng bá cải lương. Bằng chứng là ngoài việc xây rạp, lập đoàn, thầy Năm Tú còn nhập linh kiện về rồi tổ chức lắp ráp và phổ biến máy hát đĩa hiệu Pathé phono.

Để phân biệt với máy hát của Pháp, ông cho in nhãn hiệu con chó trên máy, còn trên đĩa hát thì in hình con gà trống đỏ. Dành cho người Hoa nghe thì ông làm đĩa nhạc Hoa hoặc hòa tấu, còn loại tiếng Việt ưu tiên cho cải lương. Do đĩa có dung lượng thấp nên mỗi tuồng cải lương phải in từ 6 đến 12 đĩa. Nghe thì phải canh hết đĩa rồi lại thay nên bà con nông dân thời đó trúng mùa vẫn thường nói vui khi hết đĩa: “Con gà trống hết gáy rồi!” hoặc “Thay con gà khác đi!”.

Cũng nhờ có máy hát đĩa của ông Năm Tú mà nhiều người bình dân thuộc vanh vách các điệu ca Tứ đại oán, Hành vân, Xàng xê, Dạ cổ hoài lang… Riêng ở thôn quê, mỗi khi có đám cưới, người có máy hát đĩa thường được gia chủ cho người bơi xuồng tới rước về ngồi trên bộ ván giữa để quay dây thiều và thay kim, thay đĩa phục vụ thính giả suốt đêm.

Gánh hát Thầy Năm Tú hoạt động miệt mài cho đến năm 1928 thì sa sút. Không còn khả năng hoạt động, thầy Năm phải cho giải tán gánh hát và bán rạp. Thời hoàng kim qua đi, rạp hát thầy Năm Tú nhiều lần thay tên như Hí Viện Vĩnh Lợi, rạp Tiền Giang, rồi cuối cùng quay về với cái tên nguyên thủy “Rạp thầy Năm Tú”.

Năm 2014, rạp thầy Năm Tú được khởi công tu bổ, làm mới với tổng diện tích là 542 m2. Rạp đi vào hoạt động tháng 7/2015 và chính thức đón nhận bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Nhưng tiếc thay, ánh đèn trên sân khấu của rạp thầy Năm Tú cũng chỉ le lói qua đêm. Tháng 11/2016, đêm nghệ thuật cải lương “Ngân mãi tiếng tơ đồng” do nghệ sĩ Võ Quỳnh Mơ, Đoàn Nghệ thuật tổng hợp tỉnh Tiền Giang đứng ra tổ chức như làm bừng tỉnh giấc ngủ vùi của cải lương.

Nghệ sĩ Quỳnh Mơ kể lại: "Điều mà luôn trăn trở: Ủa, tại sao rạp hát đó là một di tích lịch sử văn hóa của tỉnh thì tại sao mình lại cho nó ngủ một thời gian quá dài vậy và nó không có một sức sống gì ở đó hết. Nó hơi tâm linh, nó cũng là một cái gì đó trong lòng của mình, giống như mình phải làm một cái gì đó ở tại đây. Vì cái suy nghĩ này bây giờ mình phải làm cái gì? Mình phải làm sao để cho cái sức sống của cái rạp hát này sẽ trở lại như xưa, để không uổng công người đi trước người ta đã gây dựng lên?"

Hiện nay, người dân đã có quá nhiều lựa chọn hình thức giải trí, thưởng thức nghệ thuật nên việc đưa rạp thầy Năm Tú trở lại thời vàng son vang bóng là điều không phải dễ. Nhưng, cải lương khiến người ta đã mê thì khó dứt. Bởi nơi đó, họ tìm được tri âm, tri kỷ của chính mình.

Khi nào còn người mê cải lương thì chúng ta có quyền tin rằng rạp thầy Năm Tú vẫn có cơ hội sáng đèn. Để hò, xự, xang, xê, cống - năm cung điệu nỉ non sẽ tiếp tục hòa vào dòng chảy phương Nam như hơi thở và nhịp sống của đồng bằng.

Nhóm PV/vovgiaothong.vn

Huyền thoại Cao Văn Lầu và bản Dạ Cổ Hoài Lang xưa

 

Huyền thoại Cao Văn Lầu và bản Dạ Cổ Hoài Lang xưa

Hồng Lê: Thứ năm 27/10/2022, 15:22 (GMT+7)

Nếu nói về một biểu tượng văn hóa của vùng đất Bạc Liêu, ắt phải kể đến Nhạc sĩ Cao Văn Lầu cùng với bản "Dạ Cổ Hoài Lang" huyền thoại - bài ca độc đáo và nổi tiếng nhất trong nghệ thuật ca Cải lương Việt Nam.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu hay còn gọi là Sáu Lầu (1892-1976), quê tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sáp nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyệnVàm Cỏ, tỉnh Long An ngày nay. Thuở trước, do gia cảnh khốn khó, cả gia đình ông Cao Văn Lầu đã phải rời quê phiêu dạt đến các vùng Xà Phiên (tỉnh Hậu Giang), Họng Chàng Bè, Thạnh Hòa (Bạc Liêu) sinh sống.

Năm 1908, Cao Văn Lầu làm quen với âm nhạc thông qua việc đến xin thọ giáo nhạc sư Lê Tài Khí. Học trò Lầu lúc bấy giờ nhờ sáng dạ và siêng năng nên sớm lĩnh hội được sở học của thầy và chỉ một thời gian ngắn đã sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như: đàn kìm, cò, trống lễ và sớm trở thành nhạc sỹ chính trong ban nhạc của thầy.

Năm 1912, Cao Văn Lầu bắt đầu đi hát với vài gánh hát nhỏ, một năm sau thì ông lập gia đình với cô Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh). Thời gian này ông cũng bắt đầu sáng tác một số bản nhạc trong đó có bản Bá Điểu.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu - tác giả bài “Dạ cổ hoài lang” Ảnh: TƯ LIỆU

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu - tác giả bài “Dạ cổ hoài lang” Ảnh: TƯ LIỆU

Ở tuổi ngoài 90, ông Cao Văn Hoai, thừa nhận mình đã “nhớ ít quên nhiều” nhưng vẫn luôn rất tự hào khi kể về người cha tài hoa của mình. Ông Hoai xúc động kể lại: “Hồi xưa khoảng thời gian này cha bác ổng về lại với Vĩnh Mỹ, lúc bấy giờ mới may 1 cái túi dài trong đó có 1 cây đờn tranh và 1 cây đờn kìm giao lại cho bác giữ, năm đó bác chỉ mới 25, 26 tuổi thôi. Xuống Vĩnh Mỹ. Thời đó còn loạn lạc đôi khi ổng sợ bị bắt rồi đờn mất nên bỏ bọc cẩn thận giao lại 2 cây đờn để bác giữ lại.”

Có thể nói, cuộc đời nhạc sĩ Cao Văn Lầu là một cuộc chơi tài tử bất tận. Là cuộc chơi nên rất tùy hứng. Ông nổi tiếng khó tính và không phải ai mời cũng chơi, chơi sao cũng được. Cuộc chơi của ông phải ở nơi chốn sạch sẽ, thoáng mát, thanh tĩnh và luôn bắt đầu bằng một cuộc rượu. Nơi nào gia chủ không biết ý chuẩn bị sơ sài hay nói năng không thuận là ông dắt anh em về liền. Là cuộc chơi nên dù tiếp xúc nhiều với giới thượng lưu ông vẫn cứ… nghèo.

Theo lời kể của ông Cao Văn Hoai: Thời đó đờn ca tài tử đâu phải để kiếm tiền. Người ta rước đi chơi, đi dạy đờn khắp chốn nhưng thù lao là tùy tâm. Có người cho tiền, có người tặng đờn. Tài tử mà nên đa số chỉ tặng đờn, thêm đờn bạn bè tặng nữa nên đờn treo đầy nhà.

Ông Cao Văn Hoai kể lại: “Cha tôi ngày xưa ổng vừa đi làm ở ngoài biển vừa đi hát đám tiệc, tiệc gì người ta cũng gọi. Vì trong ban đờn ca tài tử chỉ có mình ổng thôi, nếu như có đi hát thì kéo theo thêm 5-10 người. Nhưng đâu phải là chuyện đơn giản để mời ổng hát, chủ nhà muốn tổ chức đờn ca tài tử, muốn mời thì phải đến nhà nói chuyện đàng hoàng, trà rượu đâu ra đó, ngày xưa cha tui ổng khó lắm.”

Năm 1917, nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác một khúc gồm 22 câu, theo một chủ đề của thầy Nhạc Khị đề xướng là "Chinh phụ vọng chinh phu". Bản nhạc này do góp ý của một người đồng môn đã rút xuống còn 20 câu và được trình diễn tại nhà thầy Hai Khị vào tiết trung thu năm 1918. Nhạc sư sau khi nghe sáng tác của học trò đã hết sức khen ngợi, nhân thể nhờ nhà sư Nguyệt Chiếu, người có mặt tại buổi lễ đặt tên cho bản nhạc. Sư Nguyệt Chiếu là người am tường về cổ nhạc nương theo tích cũ đặt là "Dạ cổ hoài lang" (tức nghe tiếng trống đêm nhớ chồng).

Bản nhạc này sau đó nhanh chóng lan truyền, làm nên danh tiếng của nhạc sỹ Cao Văn Lầu và ngay khi ra đời đã sớm chinh phục người nghe bởi nhiều nguyên do. Thứ nhất, bản Dạ cổ hoài lang ra đời là sự kết tinh về tri thức cổ nhạc và tâm hồn mẫn cảm, tài hoa của nhạc sỹ Cao Văn Lầu. Thứ hai bản nhạc làm xúc động người nghe bởi nó được "chắt ra" từ chính cuộc tình duyên éo le của nhạc sỹ.

Nguyên do năm 1913, ông lấy vợ nhưng qua ba năm chung sống mà vẫn chưa có con. Gia đình đã buộc Sáu Lầu từ bỏ người vợ này nhằm tìm duyên mới, hy vọng có mụn con nối dõi. Sáu Lầu tuy phải miễn cưỡng vâng lời cha mẹ nhưng lòng thì không hề có ý phụ rẫy người vợ hiền.

Tình nghĩa phu thê sâu nặng, nhạc sỹ vẫn thường lén tìm gặp người vợ cũ hiện nương náu tại một mái chùa. Từ tình cảnh bi thiết đó Sáu Lầu đã đem tâm trạng ấy phổ vào bản Dạ cổ hoài lang.

Bản Dạ cổ hoài lang ra đời cũng với nhiều bản vọng cổ khác đã nói hộ họ những nỗi niềm tâm sự buồn thương, cay đắng, chuyện đạo nghĩa, lòng nhân... Mỗi bản vọng cổ được ca lên là mỗi người nghe tìm thấy một phần số phận mình trong đó, họ cảm thấy được gửi gắm tâm sự, được chia sẻ. Có một điểm đáng chú ý là bản Dạ cổ hoài lang ban đầu từ một sáng tác của cá nhân Cao Văn Lầu sau khi được các gánh hát khắp Nam Kỳ lục tỉnh sử dụng đã dần trở nên có nhiều dị bản.

Từ chỗ là một bản nhạc với âm luật cổ nhạc đã biến đổi thành nhiều dị bản đồng thời với hoạt động biểu diễn của các nghệ sỹ, đi vào dân gian hóa, thành một thứ di sản mang tính cộng đồng. Nhiều gánh hát Nam Bộ và giới cải lương đã tôn xưng Dạ cổ hoài lang là bài ca chính thống,"bài ca vua" trên sân khấu cải lương Nam Bộ. Nhiều soạn giả, nhạc sỹ lấy cảm hứng từ bản nhạc này để sáng tác như: Viễn Châu (tân cổ giao duyên), Vũ Đức Sao Biển (Đêm Gành Hào nghe điệu hoài lang),…

Nhớ lại những ngày đầu từ khi bản Dạ cổ hoài lang ra đời, ông Cao Văn Hoai tự hào chia sẻ: “Khi bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời thì có biết bao nhiêu người tìm đến, bạn bè, các nơi tìm về với cha tôi để mà học. Cha tôi dạy ở Bạc Liêu này không biết bao nhiêu người. Hồi ổng ra bản Dạ cổ hoài lang này, những người giàu thường xuyên tới để rước ổng để về dạy học. Cha tôi dạy suốt, dạy ban đêm lẫn ban ngày, đi suốt không có nhà, ban đêm dạy tới 9,10 giờ mới xách cái máy hát về đến nhà.”

Trong một cuộc hội thảo bàn về Dạ cổ hoài lang, GS-TS.Trần Văn Khê có viết: "Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như Dạ cổ hoài lang biến thành vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể, sanh từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình vạn trạng, và sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu bốn bể".

Chỉ với một Dạ cổ hoài lang cũng đã đủ để cái tên Cao Văn Lầu trở thành bất tử. Mang tâm sự riêng của một cá nhân nhưng Dạ cổ hoài lang lại rất gần với nỗi niềm những người chinh phụ có chồng bị bắt lính tham chiến tại Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất nên nhanh chóng được hưởng ứng và lan tỏa. Lại ra đời trong giai đoạn phong trào đờn ca tài tử phát triển rộng khắp, sân khấu cải lương buổi đầu hình thành và phát triển mạnh mẽ, bản nhạc ngày càng phổ biến và kích thích sự sáng tạo của giới làm nghề.

Nghệ sĩ Ngọc Giàu và Hương Lan ca “Dạ cổ hoài lang” tại chương trình kỷ niệm 90 năm bài bản này được lưu truyền Ảnh: Người lao động

Nghệ sĩ Ngọc Giàu và Hương Lan ca “Dạ cổ hoài lang” tại chương trình kỷ niệm 90 năm bài bản này được lưu truyền Ảnh: Người lao động

Dạ cổ hoài lang qua hoạt động trình diễn đã đi vào đời sống sân khấu, có vị trí, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống âm nhạc dân tộc. Chỉ riêng hào quang đó đã khiến Dạ cổ hoài lang trở thành một thứ di sản mang tính biểu tượng, niềm tự hào của văn hóa Bạc Liêu. Nó cũng giống như hát Quan Họ Bắc Ninh, ca Huế, hát xẩm Ninh Bình, hát Xoan Phú Thọ…là thứ tài sản tinh thần vô giá mà mỗi địa phương đang gắng sức bảo tồn.

Là một người con vốn sinh ra và lớn lên tại TP.HCM, đã nhiều lần được về với sông nước miền Tây, anh Lương Trần Đức Duy từ lâu vốn đã bị cuốn hút bởi những giai điệu trầm bổng mượt mà của đờn ca tài từ Nam bộ, của bản bản Dạ Cổ Hoài Lang huyền thoại ngày nào.

Anh chia sẻ: “Bản thân tôi đã nhiều lần về miền Tây, miền sông nước, được nghe qua những giai điệu trầm bổng mượt mà của đờn ca tài tử, của cải lương Nam bộ, ví dụ như bản Dạ Cổ Hoài Lang, đây được xem là giai điệu đọng lại trong tôi rất nhiều cảm xúc, một bài hát in sâu vào trong tâm trí tôi rất nhiều. Tôi thiết nghĩ bài hát này cũng sẽ in sâu vào tâm trí nhiều thế hệ, có một vị trí ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền âm nhạc của dân tộc, của nền âm nhạc Việt Nam.”

Có thể nói, chính bản “Dạ cổ hoài lang” đã góp phần cho nhiều thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ, danh ca, danh cầm, nhiều tác giả, soạn giả là người Bạc Liêu nổi danh trên sân khấu cải lương như: Sáu Lầu, Ba Chột, Hai Thơm, Bảy Cao, Năm Nghĩa, Cô Ba Vàm Lẽo, Bảo Quốc, Thanh Nguyệt, Ánh Hồng, Yên Lang, Trọng Nguyễn...  

Với tấm lòng tôn kính, mến mộ và yêu thương một số nghệ sĩ có tên tuổi đã lấy tên ông đặt tên cho đoàn hát của mình, đó là Đoàn Cao Văn Lầu do nghệ sĩ Thái Tài thành lập vào khoảng năm 1990. Tiếp đó là Đoàn Cao Văn Lầu do nghệ sĩ Thanh Tuấn thành lập năm 1994 hoạt động trên địa bàn tỉnh Minh Hải.

“Từ là từ phu tướng Báu kiếm sắc phán lên đàng Vào ra luống trông tin nhạn Năm canh mơ màng

Em luống trông tin chàng Ôi! Gan vàng thêm đau…”

Không chỉ giới nghệ sĩ nhớ ơn nhạc sĩ Cao Văn Lầu mà mọi người dân Nam bộ, đặc biệt là người dân Bạc Liêu luôn canh cánh muốn có những hành động tri ân với người nhạc sĩ tài hoa ấy. Trải qua hơn100 năm, Dạ cổ hoài lang vẫn còn làm cho bao con tim xao xuyến. Cả những người tha hương khi nghe bản nhạc này trên đất khách cũng không thể cầm lòng.

Dạ Cổ Hoài Lang qua hoạt động trình diễn đã đi vào đời sống sân khấu, có vị trí, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống âm nhạc dân tộc, khiến nó trở thành một di sản mang tính biểu tượng, niềm tự hào to lớn của người dân Nam Bộ nói chung./.

Điêu Huyền - Tài danh Tây Đô

 

Điêu Huyền - Tài danh Tây Đô

Kim Loan - Hồng Lê: Thứ sáu 25/11/2022, 09:03 (GMT+7)

Những ai là người con của miền đất Nam Bộ, mê cải lương đều không thể không biết đến các vở: Tiếng hò sông Hậu, Khách sạn Hào Hoa, Tìm lại cuộc đời hay Kiếp chồng chung... trên sân khấu Đoàn cải lương Sài Gòn 2…. Và “cha đẻ” của những vở này chính là soạn giả Điêu Huyền.

 

Soạn giả Điêu Huyền

Soạn giả Điêu Huyền

Soạn giả Điêu Huyền hay ông Chín Điều, sinh ra tại làng Nhơn Nghĩa, bây giờ là xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ. Ông là người con thứ 9 trong một gia đình có 11 anh em. Tình yêu đờn ca hình thành từ lúc ông Chín Điều theo các anh của mình tham gia Ban Đờn ca tài tử Ái Nghĩa - ban đờn ca sớm nhất ở Cần Thơ.

Bây giờ muốn hiểu tường tận hơn về cuộc đời và sự nghiệp của vị soạn giả tài ba Điêu Huyền, thì phải tìm vấn ông Phạm Hưng Thạnh, tức ông Năm Thạnh, nguyên Tham mưu phó Cục Hậu cần Quân khu 9, là cháu gọi soạn giả Điêu Huyền bằng chú, hiện đang sống tại miếng đất xưa kia vốn là nhà của vị soạn giả tài danh này.

Theo lời ông Năm Thạnh, chú Chín Điều “giỏi từ nhỏ”.  Hồi học ở Collège de Cantho, Điêu Huyền là 1 trong số 3 người được cấp học bổng và kết thân với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Hai cậu học trò - người đờn măng-đôlin, người đờn tranh - gắn bó với nhau bằng tình yêu âm nhạc.

Cuối năm 1945, sau thời gian bôn ba ở Sài Gòn, Sóc Trăng, soạn giả Điêu Huyền về ngôi nhà ở gần Vàm Xáng, Nhơn Nghĩa, vừa tham gia kháng chiến, vừa soạn những vở tuồng nhỏ, quy tập thiếu sinh và dân địa phương diễn lại để hướng dẫn trình diễn. Nổi bật trong đó là tuồng “Thiếu nhi thời loạn”, “Giọt máu Lạc Hồng”. Năm 1952, soạn giả Điêu Huyền là một trong những người góp công lớn thành lập Đoàn Cải lương Lam Sơn - đoàn cải lương đầu tiên của Cần Thơ và làm trưởng đoàn. Trong khoảng thời gian công tác tại Đoàn, nhiều vở diễn khác tiếp tục được chấp bút, khai sanh.

Có cộng tác với soạn giả Điêu Huyền mới cảm được cái “khó” của ông, ông Năm Thạnh, cháu của soạn giả Điêu Huyền chia sẻ: "Ông có một thói quen, ông rất là nghiêm túc. Thí dụ như con lại con ngồi nói chuyện với ổng, nhìn con quan sát thì không có nhìn nhiều, nhưng cái tay của ổng luôn vừa nghe vừa gỡ cái phao tay rất là chăm chú, nghiêm túc. Rồi ở chỗ ngủ của ông lúc nào cũng có cái bàn nhỏ nhỏ như vầy, thí dụ mà đang nằm ngủ mà nhớ nhớ tới cái gì thì liền thức dậy ghi chép lại".

Cũng nhờ cái tánh kỹ lưỡng, nghiêm túc này mà các vở diễn của soạn giả Điêu Huyền luôn “sạch sạn” nếu không muốn nói là tuyệt đối. Các vở diễn của ông thu hút bởi ngôn từ vừa dân dã vừa mượt mà, ý vị. Tài hoa ấy thể hiện rõ từ tựa các vở tuồng: “Khách sạn Hào Hoa”, “Tìm lại cuộc đời”, “Tiếng hò sông Hậu”. 

Vở “Tiếng hò sông Hậu” của soạn giả Điêu Huyền do các nghệ sĩ trẻ biểu diễn. Ảnh: Giaoduc.edu.vn

Vở “Tiếng hò sông Hậu” của soạn giả Điêu Huyền do các nghệ sĩ trẻ biểu diễn. Ảnh: Giaoduc.edu.vn

Khoảng năm 1952-1954, soạn giả Điêu Huyền làm ở Ty Thông tin Cần Thơ. Đây là giai đoạn ông viết nhiều vở cải lương. Trong Địa chí Cần Thơ có đoạn: “Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đoàn tuyên truyền lưu động tỉnh được thành lập, vừa tuyên truyền, vừa diễn kịch Thiếu nhi thời loạn của soạn giả Điêu Huyền, tiêu biểu cho giai đoạn này (...). Cũng vào khoảng giữa năm 1952, Đoàn cải lương Lam Sơn thuộc Ty Thông tin tỉnh Cần Thơ ra đời, do soạn giả Điêu Huyền làm trưởng đoàn, vở cải lương Mười năm gian khổ do ông soạn đã trở thành vở diễn chính của đoàn”.

Đồng nổi tiếng là vở Chim Việt cành Nam, nhưng Mười năm gian khổ là vở cải lương nổi tiếng nhất của ông trong giai đoạn này, diễn rộng rãi ở miền Tây Nam bộ. Có thể nói rằng, những tác phẩm của soạn giả Điêu Huyền đi sâu vào lòng biết bao thế hệ người mộ điệu là bởi mỗi nhân vật, dù là tuyến phụ, cũng được khắc hóa tính cách rất độc đáo. Những nhân vật chuyên bợ đỡ, “nịnh trên, nạt dưới”, hay tàn độc do Điêu Huyền “nhào nặn” như: Đại úy Gian Thành Giảo trong “Tìm lại cuộc đời”, “Bùng Binh Biền” trong “Khách sạn Hào Hoa” hay Hội đồng Dư, cặp rằng Lựu, Hương quản Lê trong “Tiếng hò sông Hậu” đã trở thành những nhân vật hình mẫu về nghệ thuật trên sân khấu cải lương.

Này chỉ là bàn riêng về sự tinh tế trong lối quan sát bao hàm của soạn giả Điêu Huyền, còn những “nhặt nhạnh” trong đời sống cũng được vị soạn giả tài danh này mang vào khéo léo trong các vở diễn.

"Không phải riêng những chuyện xoay quanh các tuồng tích đâu, mà có những chuyện trong sự đời thôi, thí dụ như tôi đi đâu lại nhà tôi hỏi “Ông Chín có nhà không”, mà người chủ nhà nói “Chắc có mà”. Thì hiểu sao cho cái câu này? Chắc có là sao, là chưa chắc có. Có hoặc không thôi chứ chắc thì là chưa chắc đúng không. Chỉ như vậy thôi mà ông đem về ông vận dụng trong cái tuồng Gió bụi biên thùy. Như vậy, để nói rằng, tính cách, con người của ông rất là biết lắng nghe, chắt lọc những cái hay. Cho nên là ông viết rất là nhiều tuồng nhưng tuồng nào cũng rất là gần gũi với quần chúng nông dân", ông Năm Thạnh cho biết.

Cảnh trong vở cải lương nổi tiếng Khách sạn hào hoa của soạn giả Điêu Huyền. Ảnh: Giaoduc.edu.vn

Cảnh trong vở cải lương nổi tiếng Khách sạn hào hoa của soạn giả Điêu Huyền. Ảnh: Giaoduc.edu.vn

Khi nhắc tới cái chơn chất, cái gần gũi, cái đời trong các vở tuồng của soạn giả Điêu Huyền, người mộ điệu cải lương liền nghĩ ngay đến Hội đồng Dư độc ác, cô Ba Phượng tàn nhẫn hay thiếm Tư Hậu, anh Thừa hiền lành, chơn chất của vở cải lương “Tiếng hò sông Hậu”. Gần nửa thế kỷ trôi qua nhưng câu chuyện kịch tính, nhân vật điển hình, lời thoại chuẩn mực và nhất là không gian đồng quê Nam bộ được tái hiện sinh động của “Tiếng hò sông Hậu” vẫn thu hút người xem.

Trong “Tiếng hò sông Hậu”, ước mơ bình dị của Chơn - Lài trong thời buổi gian khổ lại được soạn giả thể hiện đẹp tựa bài thơ: “Lợp lại mái nhà dột nát, làm đám cưới thật đơn sơ, mua một cái mùng vải ta, sắm cho má một cái áo xuyến bà ba, mua một cặp gối tai bèo để thêu hai con thỏ ăn củ cải đỏ”.

Xem vở này, ai cũng ghét thậm tệ nhân vật Hội đồng Dư. Tiếng hò sông Hậu thành công vì gây dựng được niềm tin trong lòng khán giả về luật nhân quả nhãn tiền: kẻ xấu, kẻ ác bị trừng phạt hoặc họ sẽ hồi tâm quay về nẻo chính. Nhưng có lẽ ít ai biết nhân vật Ba Năng, rể ông Hội đồng Dư, trong vở tuồng này là ai.

Theo ông Năm Thạnh, nhân vật Ba Năng chính là soạn giả Điêu Huyền và Hội đồng Dư chính là cha vợ của soạn giả Tiếng hò sông Hậu. Một vở tuồng thành công vì nó tả đúng cuộc đời hay mang cuộc đời vào trong chính vở tuồng đó, cho nên ai nghe qua cũng thấy hình ảnh của mình hết cả.

"Tiếng hò sông Hậu đó he, thời mà đài còn đang phát, ở đây có mấy đứa nhỏ trẻ chừng 10 mấy tuổi thôi, mà nó thuộc rồi một mình nó thôi là đóng được hết tất cả các vai từ đầu tới đuôi. Ông Năm đi kéo lưới từ đầu buổi tới cuối buổi mà nghe tụi nhỏ nó hát hoài chưa hết cái tuồng (cười). Đó, để nói rằng là cái cách nói của ông trong vở rất là bình dân. Ví dụ trong tuồng Hồi xưa đâu có ai biết rành ông Hội Đồng Dư, bây giờ mà nói tới địa chủ này kia là người ta biết hết. Hay cái cách nói mà chê thằng rể, rể điên điển. Người ta đâu có ai biết rể điên điển là gì, mà qua cách thể hiện của ông người ta hiểu hơn về cái dân gian", ông Năm Thạnh nói.

Có thể nói, sự thưa dần những nhân cách nghệ thuật lớn đầy tài hoa như Điêu Huyền, Hà Triều – Hoa Phượng, Thu An, Hoàng Khâm, Nhị Kiều, Quy Sắc… là thiệt thòi không thể bù đắp cho thế hệ nghệ sĩ trẻ hiện nay. Soạn giả Điêu Huyền dù không còn tại thế, nhưng trong giới sân khấu cải lương, mọi người vẫn nhớ cái ơn của ông.

Ông đã thật sự sống một cuộc đời đáng sống khi nối tiếp, thừa hưởng những tinh hoa của các bậc tiền bối cải lương như Nguyễn Trọng Quyền, Trần Hữu Trang, Năm Châu… và đã trao lại cho những thế hệ sau ông không chỉ kinh nghiệm, tài năng, tác phẩm mà còn là tấm gương của một nhân cách sáng ngời lòng yêu nước, thương dân, yêu nghề, trân trọng nghề.

Ông đã mở đường, trở thành người anh, người cha nuôi có công dẫn dắt, rèn luyện, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều nghệ sĩ trở thành tên tuổi sáng chói trong lĩnh vực sân khấu cải lương sau này.

Đi xem gánh hát cải lương – Ngọt ngào miền ký ức

 

Đi xem gánh hát cải lương – Ngọt ngào miền ký ức

Mỹ Phụng: Thứ năm 01/12/2022, 15:03 (GMT+7)

Sau ngày giải phóng đất nước, khi truyền hình và các phương tiện truyền thông còn hiếm hoi thì gánh hát cải lương được xem là phương thức giải trí hấp dẫn nhất cho bà con. Hồi đó, mỗi lần nghe gánh hát cải lương đi đến đâu là cả xóm, cả vùng đó đều xôn xao như mở hội.

Những người từ già trẻ lớn bé đều nô nức tranh thủ làm xong việc sớm để được đi coi hát. Về sau, khi các thiết bị công nghệ hiện đại được tiếp cận đến nhiều người thì gánh hát cải lương cũng dần lui vào dĩ vãng để lại cho nhiều người con miền Tây mê cải lương với bao nuối tiếc.

Ngày nay, khi nhìn về quá khứ, cùng lật giở những trang ký ức về gánh hát cải lương để lắng lòng cảm nhận những kỉ niệm quá dỗi ngọt ngào. 

Sau ngày 30/4/1975, mỗi lần có gánh hát về quê là cả vùng quê xôn xao, vui mừng như mở hội. Cứ vào độ tháng mười một âm lịch cho đến trước khi mùa mưa tới, khi bà con nông dân mới vừa thu hoạch lúa xong có rủng rỉnh tiền và rảnh rang cũng là lúc những gánh hát cải lương đua nhau về các vùng quê để biểu diễn.

Hình ảnh chiếc ghe bự chảng chở mấy chục người cùng với phục trang đạo cụ treo cờ xanh đỏ phất phới chạy trên sông. Mấy người ngồi trên mui ghe nhìn về 2 bên bờ sông, thỉnh thoảng huơ huơ tay chào bà con. Tụi con nít thì khỏi nói, thấy chiếc ghe chở gánh hát cải lương là ba chân bốn cẳng chạy theo, mừng như Tết.

Chiếc ghe sau khi neo đậu lại, mọi người trong gánh hát mang vác đồ đạc lỉnh kỉnh lên bờ tìm một bãi đất trống hay nhà lồng chợ để dựng rạp. Rạp dựng xong là họ mở mấy băng nhạc lớn hết cỡ để khuấy động không gian trong xóm ai cũng nghe được, kể cả những người ở tuốt trong đồng. Sau đó sẽ có 2,3 người đi vòng quanh xóm, phát loa để thông báo cho bà con biết tối nay gánh hát sẽ biểu diễn tuồng gì, có những nghệ sỹ nào hát như một hình thức quảng cáo để thu hút bà con tới xem. Mỗi đêm diễn đều có bán vé vào cổng.

Cô Nguyễn Thị Nhịn, ngụ ở xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ từng được nhiều lần chứng kiến đoàn hát ghé quê biểu diễn kể lại, gánh hát hồi xưa chủ yếu đi bằng ghe nên rất vất vả:

"Hồi xưa mỗi lần gánh hát lại, cô thấy vác đồ mệt lắm kìa. Khiêng cảnh lên, mấy cảnh người ta trang trí hình người này người kia, mấy bảng dựng ở ngoài quảng cáo này kia. Trang trí cực lắm kìa. Nhất hạng là mấy người dựng cảnh. Treo màn, treo này treo kia hết. Cô dòm trong mấy chỗ cánh gà đó, thấy mỗi lần thay đổi cảnh là phải kéo màn rồi chuẩn bị này nọ cực lắm. Rồi lúc đi thì lại dọn khiêng lên xe hoặc xuống ghe. Có lần đoàn hát về 2 bữa mà không được tại trời mưa. Cái mấy chú dựng cảnh tối tối cái đi vòng vòng đi soi nhái soi cóc trời mưa á. Đậu ghe thấy tội nghiệp lắm!" 

Để được đi xem hát, ban ngày ai nấy cũng đều tất bật tranh thủ làm hết công việc sớm để chiều chiều là sửa soạn cơm nước xong là đi coi hát. Tối tối từng tốp người rủ nhau đi cùng, người lớn thì bàn tán rôm rả hôm nay đào nào hát hay, kép nào diễn giỏi. Còn tụi nhỏ thì khoe đồ mới với nhau, rồi rượt đuổi nhau í ới trên đường quê.

Nhắc về chuyện đi coi hát, anh Nguyễn Minh Hải, ngụ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang không thể nào quên được ký ức tuổi thơ của những ngày gánh hát về xã mình: "Gánh hát hồi xưa người ta về, ca sĩ nào có hình thì người ta dán ở trước cổng hình của những nghệ sĩ đó. Khi khán giả đi chợ ngang, người ta thấy gánh hát dựng sân khấu, giàn nhạc lên, thấy dán hình ca sĩ thì mình đi qua mình xem. Về nhà nói mẹ ơi bữa nay có nghệ sĩ Nguyễn Kha, Vũ Linh về đó. Đến 2-3 giờ chiều, người ta dựng rạp xong thì sẽ đi phát loa thông báo hôm nay có nghệ sĩ nào. Tối hát thì mình tranh thủ ra trước. Nếu 8 giờ tối hát thì chừng 7 giời rưỡi mình có mặt tại sân khấu để mua vé vào. 

Mình mua vé trước thì được đứng rằng trước, mua sau thì đứng lút đằng sau, không thấy rõ ca sĩ. Mình vô trước thì mình gặp ca sĩ, mình ôm ca sĩ được, mình đứng sau thì mình chen vô không được. Quá trời đông, hồi xưa thì đông lắm. Hồi đó còn đi học, ngày thì tranh thủ học, tối thì xin cha mẹ đi coi. Rồi đi soạn đồ, đi mua xăng chuẩn bị chạy vỏ máy đi, vui lắm chị ơi. Nói chung hồi xưa đi xem cải lương rất là vui".

cai-luong-tieng-trong-me-linh_nongnghiep-094714_80

Dù là thế hệ 9X nhưng anh Nguyễn Minh Hải từ nhỏ đã có niềm đam mê mãnh liệt với nghệ thuật cải lương. Vì vậy mỗi lần có gánh hát về là anh đều phải tranh thủ đi xem cho bằng được. Chỉ tiếc là khi anh càng lớn lên thì các gánh hát cải lương cũng dần bị mai một, để lại trong anh bao tiếc nuối. Anh kể, kỉ niệm hạnh phúc nhất của anh về gánh hát là đã một lần được gặp và giao lưu với nghệ sỹ thần tượng của mình.

Anh Hải nhớ lại: "Năm 2015, em đi xem hát em gặp nghệ sĩ Nguyễn Kha thì lúc đó em rất là thích. Tại vì lúc đó anh Nguyễn Kha hát trước, em rất là thích nhưng em không biết cách nào. Cha mẹ em bữa đó bị bệnh nữa không đi được. Em mới kêu bà nội em là tối nay cho con đi xem anh Nguyễn Kha là thần tượng của em. Bà nội em mới nói tao đâu biết chạy máy đâu. Rồi chú út thầy em khóc quá nên chở em đi ra ngoài đó coi.

Em gặp nghệ sĩ Nguyễn Kha thì mới xin cho con hát với chú 1 bài được không? Anh Nguyễn Kha mới hỏi con thuộc bài gì của chú, em mới nói bài Mùa hoa đào. Em lên tham gia được 2 câu mà em cũng tự tin lắm nha. Hát với thần tượng của mình mà rất tự tin. Anh Nguyễn Kha mới nói là con còn nhỏ mà sao con không đi học hát đi. Em mới nói là con không đủ khả năng chú ơi".

Coi hát cũng nhiều mà đi chơi cũng không ít. Đó cũng là dịp nam nữ được hẹn hò nhau “hợp pháp”. Đội quân bán hàng theo thời vụ hoạt động cũng xôm trò, dù chỉ là mía chặt khúc, đậu phộng nấu… ; mà nước đá si rô, nước đá bàu là món hàng đặc biệt nhất, vì ngày thường không hề có, ngay cả lúc tiệc tùng.

Đi coi hát, người ta thích nhất là xem trang phục của các nghệ sỹ, đặc biệt là trong các vai tuồng tích. Hay những cảnh đấu kiếm giữa không trung, bay lên, hạ xuống trong tiếng nhạc, tiếng âm thanh ình chéo, ình chéo làm người xem phấn khích quá, có lúc ồ lên đầy thán phục, lúc lại há hốc miệng ra coi. Ấy vậy mà không ít người mê coi hát như điếu đổ.

Giống như chú Nguyễn Văn Khỏe, xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nhớ lại cái thời mê coi mà bất chấp có lúc phải “ăn đòn”: "Tía chú lúc đó ông khó lắm. Chú 10 tuổi đi chăn trâu. Mà gánh hát tới xóm thì ổng bắt chăn trâu tới tối, trâu no ổng mới cho về cột, ổng mới chịu. Mình ham lắm mà nên ráng trốn đi. Chú ham lắm, có hát là trốn đi xem à. Cha mẹ có đánh gần chết cũng ráng trốn đi, tại chú mê lắm.

Vô tuyến cũng có mà có điều phải nhà nào khá lắm, có vô tuyến trắng đen mà cũng phải 1-2 cây số mới có người sắm một cái. Mà người coi đông cả trăm vậy đó. Rồi coi cho kỹ trên đài là những gạo cội không à. Minh Phụng, Minh Vương, Lệ Thủy rồi Tấn Tài đồ có lên, chứ Thanh Kim Huệ thì sau này chứ hồi đó chưa thấy".

Ở mỗi tuồng hát, khán giả vừa xem vừa xì xầm bàn tán với nhau. Người thì khen anh kép chánh lên vọng cổ ngọt như mía lùi. Người lại khen cô đào chánh nhập vai quá, người thì ngồi khóc thút thít theo nhân vật trong tuồng...   

Nhớ lại những kỉ niệm đi xem hát cải lương, cô Nguyễn Thị Nhịn, xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ không quên được câu chuyện “cười ra nước mắt” năm nào: "Hồi xưa gánh hát về chợ Vàm Ô Môn là chuyên gia theo bà ngoại coi, còn ông ngoại thì nói đi coi miết tối không đóng cửa ăn trộm nó vô nó lấy đồ hết đó.

Xong cái bữa đó đi coi hát cái ông ngoại đóng cửa trước, cái vãn hát về không vô nhà được. Mà hồi đó nhà cô nhà sàn. Nhà cô là ở chợ Vàm Ô môn gần chỗ bên đò bây giờ là bến đò Phong Hòa mà mình đi qua Phong Hòa là về Đồng Tháp được luôn đó. Nhà cô ở đó. Nhà sàn nè cái nước cạn cái lội ra để vô cửa sau. Cô nhớ tới giờ, đi coi hát mà bị đóng cửa nhốt ở ngoài".

Sau mỗi đêm diễn, khi ánh đèn sân khấu tắt, khán giả lặng lẽ đứng dậy, cùng bước đi trong đêm về nhà. Dường như ai cũng còn đắm hồn mình cùng những hỷ nộ ái ố trong tuồng cải lương hồi nãy. Ai cũng thấy có chút bóng dáng mình trong 1 vai tuồng nào đó, hoặc thấy ước mơ của mình lấp lánh cùng ánh đèn tiếng nhạc.

Ngày nay, khi thời hoàng kim của cải lương không còn nữa và các gánh hát cải lương cũng đi vào dĩ vãng, nhưng miền ký ức của những người con vùng đất Cửu Long ở mỗi lần đi xem hát vẫn đọng lại ngọt ngào như mới hôm qua.   

Đàn Sến LÙA QUÁ TRỜI LÙA - NS Hoàng Thành đàn bài QUA CẦU GÁNH LÚA này thật đỉnh nè | Trà Đờn

 Ngón đàn xưa của nhạc sĩ Hoàng Thành trong giới guitar phím lõm cổ nhạc được giới chuyên môn và nghệ sĩ đồng nghiệp đánh giá là điêu luyệ...